LOADING

Type to search

Bài 11: Vận chuyển các chất qua màng sinh chất Bài 20: Cân bằng nội môi Chương 2: Cấu trúc của tế bào Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở động vật THPT phần 2: Sinh học tế bào THPT phần 4: Sinh học cơ thể

Cá có đi vệ sinh không?

Tan Hung Th10 16

Phần lớn thời gian của cuộc đời, chúng ta sống và làm việc trong một điều kiện lí tưởng nhất của cơ thể. Nếu bạn nghĩ đó chính là niềm vui, phấn khởi và cảm giác tràn đầy năng lượng để gia tăng độ hiệu quả tối đa cho mọi công việc mà bạn thực hiện thì rất tiếc, điều đó không thực sự chính xác. Ngược lại, đó chính là sự thoải mái, thư giãn, không quá vui hoặc buồn hay nói cách khác – trạng thái cân bằng nhất của cơ thể. Trừ khi bạn đang trải qua một triệu chứng rối loạn nào đó thì sự cân bằng này hầu như sẽ chiếm đại đa số quỹ thời gian trong ngày của chúng ta. Tuy nhiên, bạn có biết, đằng sau điều kiện đơn thuần ấy là một cơ chế tinh xảo hoạt động gồm nhiều bước để kết quả cuối cùng là đưa cơ thể trở về trạng thái cân bằng nhất. Và tương tự như chúng ta, hầu hết tất cả các loài sinh vật trong tự nhiên, bao gồm loài cá, sở hữu cơ chế này không chỉ để “thư giãn” mà còn để sống sót và tồn tại hiệu quả trong nhiều điều kiện khác nhau của tự nhiên. Cùng tìm hiểu cơ chế này ở bài viết dưới đây.

Khái quát:

Cân bằng nội môi là một trong những cơ chế cơ bản và thiết yếu nhất đối với hầu hết mọi sinh vật sống. Đối với loài cá, cơ chế này đặc biệt trở nên quan trọng khi chúng giải quyết vấn đề về nước của cá. Khoan đã? Cá mà gặp vấn đề về nước ư? Chẳng phải đó là môi trường tự nhiên của chúng sao? Thật ra, bạn đã đúng về phần nước là môi trường tự nhiên của cá, tuy nhiên, điều đó không nghĩa là cuộc sống của cá trong môi trường nước sẽ dễ dàng nhất. Không như chúng ta, môi trường nước không hoàn toàn ưu ái và sinh ra để dành cho loài cá. Chỉ là cá sẽ sống tốt hơn nhiều khi ở dưới nước so với khi ở trên cạn thôi. Còn khi ở dưới nước, việc điều chỉnh và cân bằng lượng nước và muối trong cơ thể chúng là một vấn đề lớn mà chúng cần phải quan tâm nếu chúng muốn sống sót trong vòng vài tiếng tiếp theo. Rất may, trong cơ thể chúng tồn tại một cơ chế cân bằng tự động hoặc được điều khiển một phần để giúp chúng có thể “sống sót” trong nước.

Kiến thức cần biết:

  • Cân bằng nội môi là một đặc tính của một hệ thống mở để điều khiển môi trường bên trong nhằm duy trì trạng thái cân bằng, thông qua việc điều chỉnh các cơ chế điều hòa cân bằng động khác nhau.
  • Áp suất thẩm thấu là lực đẩy của các phân tử dung môi từ dung dịch có nồng độ thấp đến dung dịch có nồng độ cao qua màng.
  • Vận chuyển chủ động là phương thức vận chuyển các chất từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao (ngược chiều građien nồng độ) và tiêu tốn năng lượng.
  • Vận chuyển thụ động là phương thức vận chuyển các chất mà không tiêu tốn năng lượng (cùng chiều gradien nồng độ)

Nỗi buồn của cá:

Vậy cuối cùng, vấn đề nghe đầy nghịch lí này mà mọi loài cá đều phải đối mặt là gì? Nó liên quan đến chiều di chuyển của các chất dựa trên sự chênh lệch giữa điều kiện môi trường trong cơ thể cá và nước mà bạn đã được phổ cập ở trên. Cụ thể, đối với cá nước mặn (những loài cá sống ở biển), nước biển thường sẽ mặn hơn môi trường bên trong cơ thể của cá. Điều đó có nghĩa là môi trường bên trong của cá sẽ có nồng độ nước cao hơn nồng độ nước bên ngoài của biển (biển nhiều nước nhưng thực ra chỉ toàn nước muối nên nước trong người cá vẫn có nồng độ cao hơn). Mà như chúng ta đã biết, vật chất( bao gồm cả nước) di chuyển từ chiều có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp. Cho nên, nước bên trong cơ thể cá sẽ theo chiều nồng độ bị phân tán ra ngoài môi trường nước biển và làm cho cá bị mất nước. Để giải quyết vấn đề này, cá nước biển liên tục phải uống nước, lọc, tận dụng và hấp thụ tối đa phần nước và thải ra phần muối. Chính vì thế, cá nước biển khi tiểu tiện sẽ chỉ thải ra một lượng rất ít và dung dịch đó đặc biệt mặn vì chứa rất nhiều muối mà cá muốn thải ra ngoài môi trường. Nguyên nhân là vì không loài cá nước biển nào muốn cơ thể mình bị “mặn” quá vì khi ấy, chúng sẽ chết.

Mặt khác, vấn đề tương tự cũng hằng ngày làm khổ các loài cá nước ngọt, nhưng rắc rối mà chúng gặp phải là hoàn toàn trái ngược với vấn đề của loài cá nước biển. Trong môi trường nước ngọt, cơ thể của chúng mặn hơn môi trường nước bên ngoài, và theo chiều di chuyển nồng độ, nước từ bên ngoài liên tục đi vào trong cơ thể chúng thông qua da và mang. Ban đầu, chúng sẽ rất vui vì không phải lo bị thiếu nước, thậm chí chúng không cần uống nước mà cơ thể vẫn luôn luôn có đầy đủ nước… cho đến khi cơ thể chúng bị trương lên quá mức và vỡ tung. Một cái chết vì “sặc” nước. Để tránh viễn cảnh này diễn ra, chúng phải liên tục đi vệ sinh. Mặc dù nghe có vẻ mất vệ sinh nhưng thực chất, trong nước tiểu của chúng có chứa các hợp chất có Nito và Photpho, là một nguồn dinh dưỡng bổ dưỡng cho các loại cây, tảo dưới nước.

Kết:

Sự hiện hữu của cân bằng nội môi trong tự nhiên là thiết yếu cho sự sinh tồn của các loài sinh vật trên Trái Đất, dù cơ chế ấy có thể trông kì lạ ở một số loài sinh vật. Chính vì vậy, ở các điều kiện môi trường khắc nghiệt đến đâu, từ các vùng biển mặn cho đến các vùng nước lợ, sự sống vẫn sinh sôi và phát triển.

“Cân bằng hoàn hảo, như cách mà mọi thứ nên hoạt động” – Trích dẫn

Kiến thức tham khảo:

  • Bài 11: Vận chuyển các chất qua màng sinh chất (Sinh học 10)
  • Bài 20: Cân bằng nội môi (Sinh học 11)
Tags:

You Might also Like

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *